Chọn lọc kiểu gen đã làm tăng đáng kể hiệu suất của gà thịt và gà mái giống, điều này làm tăng nhu cầu về chất dinh dưỡng bổ sung trong khẩu phần. Theo đó, các chuyên gia dinh dưỡng có trách nhiệm bảo đảm sức khoẻ và năng suất của đàn cũng như chất lượng của trứng và gà con. Các khoáng vi lượng như kẽm, đồng và mangan là các khoáng thiết yếu để bảo đảm năng suất động vật. Chúng hoạt động như các đồng phân enzyme và là các thành phần của metalloenzyme.
Kẽm là một thành phần hoặc hoạt chất của hàng trăm enzyme và rất cần thiết đối với nhiều phương diện tăng trưởng, bao gồm tổng hợp DNA. Kẽm cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tổng hợp hai protein chức năng quan trọng, chính là collagen và keratin. Các protein này có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển phôi thai và gà con mới nở. Collagen là protein cấu trúc chính của các mô bên trong, bao gồm sụn và xương. Keratin là protein cấu trúc của lông, da, mỏ và móng. Kẽm cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của gà con vì nó ảnh hưởng đến sự thèm ăn. Sự thiếu hụt hoặc thừa kẽm có liên quan đến chứng chán ăn.
Đồng là chất thiết yếu cho sinh sản và phát triển phôi thai và đóng một vai trò quan trọng trong liên kết chéo giữa collagen và elastin. Mangan cũng rất cần thiết cho sự phát triển và khả năng sinh sản. Nó cũng rất quan trọng đối với sự phát triển xương phôi thai cũng như xương gà con mới nở.
Khi xem xét sự hình thành và tình trạng nguyên vẹn của vỏ trứng, kẽm, đồng và mangan là những thành phần quan trọng đối với vỏ trứng khỏe mạnh. Thiếu kẽm có thể làm giảm trọng lượng và sức bền của vỏ vì kẽm tham gia cung cấp ion cacbonat trong quá trình hình thành vỏ. Trong quá trình các sợi màng vỏ phân bố, sự thiếu hụt đồng có thể dẫn đến biến dạng hình thái trứng và gây ra các đặc tính cơ học bất thường. Ngoài ra, mangan kích hoạt một enzyme tham gia vào việc tạo ra glycosaminoglycan, là thành phần của proteoglycan. Các proteoglycan có mặt trong màng của vỏ trứng và tham gia vào việc kiểm soát cấu trúc và kết cấu của nó.
Kẽm, đồng và mangan đóng một vai trò quan trọng kể cả khi hoạt động riêng lẻ hoặc kết hợp trong hỗ trợ tăng trưởng, hình thành và duy trì tính toàn vẹn của mô. Do đó, việc bổ sung cho gà mái các nguồn chelat có đặc tính sinh học cao sẽ không chỉ cải thiện chất lượng trứng của gà mái mà còn tăng tỷ lệ nở cũng như chất lượng gà con.
Tăng tính năng sinh học của các khoáng chất có thể cải thiện năng suất, sự phát triển mô và tính nguyên vẹn của vỏ trứng; như đã thấy sức chịu lực của vỏ trứng, khả năng nở, sự phát triển phôi và chất lượng gà con được cải thiện; cũng như tăng cường đáp ứng miễn dịch với vắc xin và tăng hiệu suất, tất cả được phản ánh thông qua quá trình tăng trưởng và sự chuyển đổi thức ăn được cải thiện. Đặc tính sinh học của các khoáng vi lượng chelat tăng lên có thể làm giảm các phản ứng đối kháng với các thành phần dinh dưỡng khác trong đường tiêu hóa. Về việc sử dụng một nguồn khoáng vi lượng chelat, ví dụ như kim loại methionine hydroxy analog chelate (MMHAC), cho phép chuyên gia dinh dưỡng giảm lượng khoáng vi lượng trong thức ăn, trong khi vẫn đáp ứng được các nhu cầu dinh dưỡng của động vật và cải thiện các chỉ tiêu sản xuất chính.
Sản lượng trứng, độ bền vỏ trứng và khả năng nở
Nghiên cứu được thực hiện ở gà mái giống trong điều kiện thương mại cho thấy những cải tiến đáng kể đối với các thông số sản xuất chính ở gà mái cho ăn MMHAC. Một nghiên cứu đã chứng minh rằng có sự gia tăng 4,1 phần trăm tổng sản lượng trứng trên mỗi chuồng gà và tăng 4,9% gà con nở ra trên mỗi chuồng gà nhờ bổ sung MMHAC trong khẩu phần cho thấy tốt hơn nguồn khoáng vi lượng vô cơ (ITM) như kẽm, đồng và mangan (Hình 1). Thêm vào đó, sự cải thiện đồng đều độ bền vỏ trứng đã được chứng minh ở trứng của những con gà mái giống được cho ăn MMHAC trong suốt thời gian 80 tuần thử nghiệm (Hình 2).
Hình 1. Ảnh Hưởng Của ITM So Với MMHAC Zn, Cu Và Mn Trên Tổng Sản Lượng Trứng Và Khả Năng Nở Trên Từng Chuồng Gà.
Hình 2. Ảnh Hưởng Của Sự Bổ Sung ITM So Với MMHAC Zn, Cu Và Mn Đối Với Sức Bền Vỏ Trứng.
Các kết quả này khuyến khích thay thế ITM tiêu chuẩn bằng MMHAC ở mức bổ sung thấp hơn để tăng hiệu suất và độ cứng vỏ trứng trong giai đoạn gà đẻ, đặc biệt là sau 60 tuần tuổi khi sản lượng trứng bắt đầu giảm.
Nghiên cứu bổ sung đã được thực hiện trên 15.200 con giống nặng cân được so sánh với các kết quả từ việc bổ sung các khoáng vi lượng như MMHAC hoặc hợp chất sulfate/oxide. Đối với gà được cho ăn thức ăn chứa MMHAC, tỷ lệ phôi sống ở 18 ngày được cải thiện và tỷ lệ nở tăng khoảng 2% ở 36 tuần tuổi (Hình 3).
Hình 3. Ảnh Hưởng Của Thức Ăn Chứa ITM So Với MMHAC Zn, Cu Và Mn Đối Với Tỷ Lệ Nở*.
Sự phát triển phôi
Điều quan trọng là phải nhận biết rằng phôi phát triển bên ngoài cơ thể gà mái. Do đó, hàm lượng khoáng trong lòng đỏ trứng rất quan trọng cho quá trình phát triển tối ưu của phôi và sinh trưởng của gà con. Trong một nghiên cứu thực nghiệm, nguồn vô cơ như kẽm, đồng và mangan được thay thế bằng MMHAC tương ứng ở mức đã giảm, sau đó người ta đo hàm lượng khoáng của lòng đỏ trứng (Hình 4).
Hình 4. Ảnh Hưởng Của Thức Ăn Chứa ITM So Với MMHAC Zn, Cu Và Mn Đối Với Hàm Lượng Khoáng Trong Trứng (Hiệu Ứng Nguồn).
Thí nghiệm này cho thấy người chăn nuôi có thể cải thiện sự phát triển của phôi bằng cách cải thiện nguồn cung cấp khoáng vi lượng cho phôi, đồng thời giảm hàm lượng khoáng chất tổng thể của khẩu phần. Với tác động sinh lý của khoáng vi lượng, nó có thể tạo thuận lợi cho sự phát triển miễn dịch và khả năng sinh tồn của gà con. Mối quan hệ này có thể được đánh giá thêm bằng cách đo mức độ khoáng hoá xương mới nở.
Xem đầy đủ tại nguồn bài viết: Ecovet

0 nhận xét:
Đăng nhận xét